Việt Nam: Tăng trưởng cao, nhưng sức chống chịu đến đâu?

Ảnh ông Tô Lâm ghép trên nền một khu dân cư ở Hà Nội
    • Tác giả, Vũ Đức Khanh
    • , Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Ottawa, Canada
  • Được đăng
  • Thời gian đọc: 7 phút

Việt Nam đang nổi lên như một trong những câu chuyện tăng trưởng đáng chú ý nhất châu Á.

Các nhà máy mở rộng sản xuất, cảng biển nhộn nhịp, còn hoạt động ngoại giao ngày càng linh hoạt giữa những trung tâm quyền lực lớn.

Theo số liệu chính thức, GDP Việt Nam tăng 9,01% trong chín tháng đầu năm 2026.

Nhưng đằng sau những con số ấn tượng là một câu hỏi quan trọng hơn: Việt Nam đang xây dựng một nền kinh tế đủ sức duy trì tham vọng của mình, hay đang ngày càng phụ thuộc vào những điều kiện nằm ngoài khả năng kiểm soát?

Tăng trưởng phản ánh quy mô kinh tế đang mở rộng.

Sức chống chịu cho biết những thành quả ấy có thể đứng vững trước biến động hay không.

Thách thức của Việt Nam vì thế không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà còn là xây dựng nền tảng tài chính, năng lực sản xuất trong nước và thể chế đủ vững để biến tăng trưởng thành sức mạnh quốc gia lâu dài.

Tăng trưởng tín dụng và cái giá của vốn vay

Một trong những điểm dễ bị bỏ qua trong bức tranh kinh tế Việt Nam là vai trò quá lớn của tín dụng ngân hàng.

Khi doanh nghiệp chủ yếu dựa vào vốn vay để mở rộng hoạt động, tăng trưởng có thể được thúc đẩy nhanh chóng.

Nhưng mô hình này cũng làm gia tăng sự phụ thuộc vào khả năng cung ứng tín dụng, chất lượng tài sản của ngân hàng và diễn biến của thị trường bất động sản.

Nếu vốn tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực có khả năng sinh lời ngắn hạn, nền kinh tế có thể tăng quy mô mà chưa chắc cải thiện tương ứng năng suất và năng lực cạnh tranh dài hạn.

Khi thị trường đảo chiều, những rủi ro tích tụ trong hệ thống tài chính có thể nhanh chóng lan sang doanh nghiệp, hộ gia đình và ngân sách công.

Vấn đề không nằm ở việc tín dụng tăng nhanh tự thân là tốt hay xấu.

Câu hỏi là dòng vốn đang tạo ra năng lực sản xuất mới đến đâu, và ai sẽ gánh chịu chi phí nếu những khoản đầu tư đó không mang lại hiệu quả như kỳ vọng.

Việc mở rộng thị trường vốn, nâng cao chất lượng giám sát ngân hàng, minh bạch hóa rủi ro và cải thiện kỷ luật phân bổ vốn vì thế không chỉ là yêu cầu kỹ thuật.

Đó là điều kiện để tăng trưởng không biến thành một nguồn bất ổn trong tương lai.

Tăng trưởng ở Việt Nam đang dựa một phần lớn vào tín dụng

Hội nhập chưa đồng nghĩa với chuyển đổi kinh tế

Việt Nam đã tận dụng hiệu quả quá trình hội nhập để thu hút đầu tư nước ngoài và trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đây là thành quả đáng kể, phản ánh những lợi thế về vị trí địa lý, lực lượng lao động và định hướng mở cửa kinh tế.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc tham gia sâu hơn vào thương mại quốc tế và việc nâng cao thực chất năng lực của nền kinh tế trong nước.

Một quốc gia có thể xuất khẩu ngày càng nhiều nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào linh kiện, máy móc, công nghệ và nguyên liệu nhập khẩu.

Khi đó, giá trị được tạo ra trong nước có thể thấp hơn nhiều so với quy mô kim ngạch xuất khẩu thể hiện.

Thước đo quan trọng không chỉ là Việt Nam xuất khẩu được bao nhiêu, mà còn là doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị, làm chủ được những công đoạn nào và có thể tiến lên những phân khúc có năng suất cao hơn đến đâu.

Muốn vậy, Việt Nam cần phát triển mạng lưới nhà cung ứng trong nước, nâng cao kỹ năng lao động, thúc đẩy đổi mới công nghệ và tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

An ninh năng lượng và khả năng ứng phó với những thay đổi trong chính sách thương mại của các đối tác cũng cần được xem là bộ phận của chiến lược tăng trưởng.

Một nền kinh tế mở không nhất thiết phải là một nền kinh tế dễ bị tổn thương.

Giới hạn của ngoại giao cây tre

Trên phương diện đối ngoại, Việt Nam đã cho thấy khả năng duy trì quan hệ với các đối tác có lợi ích khác biệt, từ Nga, Trung Quốc đến Mỹ, EU, Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ, Canada và Australia.

Chính sách ngoại giao linh hoạt giúp Hà Nội mở rộng không gian hành động và tránh bị cuốn hoàn toàn vào cạnh tranh giữa các cường quốc.

Đó là một lợi thế chiến lược.

Nhưng ngoại giao, dù khéo léo đến đâu, cũng không thể thay thế những nền tảng kinh tế và thể chế vững chắc ở trong nước.

Khả năng tự chủ chiến lược không chỉ phụ thuộc vào việc một quốc gia có bao nhiêu đối tác, mà còn vào khả năng chịu đựng sức ép khi lợi ích giữa các đối tác xung đột.

Nếu quá phụ thuộc vào một thị trường, một nguồn cung công nghệ, một tuyến năng lượng hay một dòng vốn, dư địa lựa chọn của quốc gia sẽ bị thu hẹp.

Bởi vậy, mục tiêu không phải là buộc Việt Nam phải chọn Washington hay Bắc Kinh.

Mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế đủ đa dạng và có sức chống chịu để không bị lệ thuộc quá mức vào bất kỳ bên nào.

Ngoại giao cây tre có thể giúp Việt Nam giữ không gian xoay xở.

Nhưng chính những nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội vững chắc mới quyết định không gian ấy có ý nghĩa đến đâu.

Thông tin cũng là một nguồn lực kinh tế

Có một yếu tố ít được đề cập khi đánh giá sức chống chịu của nền kinh tế: chất lượng thông tin mà bộ máy quản trị nhận được.

Một hệ thống tài chính lành mạnh cần thông tin chính xác, công bố rủi ro đầy đủ và cơ chế giám sát có khả năng phát hiện sai lệch trước khi chúng trở thành khủng hoảng.

Chính phủ cũng cần nghe được những cảnh báo không thuận tai từ doanh nghiệp, chuyên gia, nhà báo và người dân.

Khi báo chí độc lập bị hạn chế, những ý kiến phản biện bị trừng phạt hoặc các câu hỏi khó bị xem là mối đe dọa, hệ thống quản trị có nguy cơ đánh mất những tín hiệu cảnh báo quan trọng.

Đây không chỉ là vấn đề quyền tự do chính trị, mà nó còn là vấn đề năng lực điều hành quốc gia.

Không có phản biện không có nghĩa là chính sách đúng.

Không có tiếng nói bất đồng cũng không có nghĩa là xã hội đồng thuận.

Đôi khi, sự im lặng chỉ cho thấy những vấn đề chưa được phép bộc lộ.

Một chính phủ muốn điều hành hiệu quả phải có khả năng nhận diện sai lầm, điều chỉnh chính sách và chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.

Minh bạch, kiểm toán độc lập, công khai thông tin về nợ và rủi ro tài chính, cùng không gian cho tranh luận có căn cứ, đều góp phần nâng cao chất lượng quản trị.

Trách nhiệm giải trình vì thế không đối lập với năng lực nhà nước; ngược lại, đó là một trong những nền tảng của năng lực ấy.

Từ tăng trưởng đến sức mạnh quốc gia

Việt Nam đang đứng trước một lựa chọn có ý nghĩa lâu dài.

Nước này có thể tiếp tục xem tốc độ tăng trưởng, quy mô đầu tư và kim ngạch xuất khẩu là những thước đo chủ yếu của thành công.

Hoặc có thể sử dụng giai đoạn tăng trưởng hiện nay để xây dựng một nền kinh tế cân bằng hơn, hệ thống tài chính lành mạnh hơn và các thể chế có khả năng tự điều chỉnh tốt hơn.

Hai con đường không nhất thiết loại trừ nhau.

Tuy nhiên, nếu chỉ theo đuổi tốc độ mà xem nhẹ chất lượng, những thành tựu trước mắt có thể che khuất các rủi ro đang tích tụ.

Tăng trưởng thiếu sức chống chịu có thể tích lũy những điểm yếu.

Tăng trưởng dựa trên các thể chế có năng lực sẽ mở rộng quyền lựa chọn của quốc gia.

Đối với Việt Nam, điều đó có nghĩa là không chỉ cần thêm vốn, mà còn cần phân bổ vốn hiệu quả hơn; không chỉ cần thêm thị trường, mà còn cần nâng cao năng lực sản xuất trong nước; không chỉ cần ngoại giao linh hoạt, mà còn cần những nền tảng nội tại đủ vững để bảo vệ quyền tự chủ.

Thước đo cuối cùng của năng lực lãnh đạo không đơn thuần là tốc độ tăng trưởng mà một chính phủ có thể đạt được.

Đó còn là khả năng xây dựng một đất nước đủ sức chống chịu để thịnh vượng, đủ tự tin để chấp nhận sự giám sát và đủ mạnh để tự sửa chữa những sai lầm của mình.

Việt Nam không cần hạ thấp tham vọng.

Điều cần thiết là củng cố những nền tảng để người dân và nền kinh tế có thể thực sự đạt được tham vọng ấy.

  • Tác giả Vũ Đức Khanh hiện sống tại Canada, là luật sư và nhà bình luận chuyên về chính trị Việt Nam và Canada, quan hệ quốc tế và luật pháp quốc tế.