Đảng viên làm kinh tế trong kỷ nguyên mới: Đâu là giới hạn của quyền lực công - lợi ích tư?

Nguồn hình ảnh, Getty Images/BBC
Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua quy định để đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh, đồng thời khuyến khích các thành viên "làm giàu chính đáng".
"Đảng viên làm kinh tế phải nêu gương chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của người lao động; tạo điều kiện để họ tiến bộ, hưởng thành quả tương xứng với đóng góp, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, củng cố sự gắn bó của Nhân dân, người lao động với Đảng", ông Tô Lâm nói trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 hôm 8/10.
Điều này đánh dấu một bước chuyển biến trong tư duy của Đảng Cộng sản, từ việc "cho phép" đến "khuyến khích" Đảng viên làm kinh tế.
Động thái này cũng là một bước dài kể từ công cuộc đổi mới 1986 khi Việt Nam chính thức thừa nhận nền kinh tế thị trường dù "định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một khi thừa nhận kinh tế thị trường – vốn là biểu hiện nổi bật nhất của chủ nghĩa tư bản, nhưng giới lý luận của Đảng vẫn coi đó là một giai đoạn chuyển tiếp, và tiếp tục đề cao vai trò can thiệp, quản lý của Nhà nước.
Nhưng điều đó làm nổi bật lên một số câu hỏi về xung đột lợi ích, giữa việc sử dụng quyền lực công cho lợi ích tư.
Những 'đột phá chính sách'
Kinh tế tư nhân một thời là đối tượng của cải tạo công thương nghiệp, kể từ khi Hà Nội thống nhất Việt Nam vào năm 1975.
Các chiến dịch đánh tư sản đã dường như khiến cho kinh tế miền Nam, và kinh tế Việt Nam lún sâu vào trong khủng hoảng, từ siêu lạm phát, sản xuất đình đốn, nguyên liệu thiếu, và cả nạn đói.
Điều đó đặt giới lãnh đạo Việt Nam phải tìm cách giải quyết, và kết quả là công cuộc Đổi mới vào năm 1986.
Khi đó, Đảng chính thức đã thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có tư bản tư nhân.
Từ cấm đoán, Việt Nam dần cởi trói cho khối tư nhân, bắt đầu từ Luật Công ty 1990, đến Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Đầu tư nước ngoài…
Số lượng các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam đã tăng lên đáng kể từ đó, và đóng góp ngày càng nhiều trong tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm.
Càng ngày, dường như lằn ranh giữa lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản với kinh tế thị trường của tư bản chủ nghĩa ngày một mờ nhạt.
Kinh tế tư nhân là là một trong bốn thành phần, gồm kinh tế nhà nước (giữ vai trò chủ đạo), kinh tế tư nhân (trong nước), kinh tế FDI (tư bản nước ngoài) và kinh tế tập thể.
Sự thay đổi của bộ mặt kinh tế cũng đặt ra đòi hỏi về chuyện đảng viên có được làm kinh tế hay không.
Tháng 3/2002, Trung ương Đảng lần đầu tiên đề cập đến chuyện "đảng viên đang làm chủ doanh nghiệp tư nhân chấp hành tốt Điều lệ Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, nếu có nguyện vọng thì vẫn là đảng viên".
Đến năm 2006, tức 20 năm sau kể từ Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức cho phép các thành viên của mình được làm kinh tế tư nhân.
"Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô phải gương mẫu chấp hành Điều lệ Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và quy định cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương", văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 10 ghi.
Hơn 20 năm sau đó, tháng 10/2026, Đảng lại "khuyến khích" các thành viên của mình hoạt động kinh tế nhằm "đóng góp cho đất nước".
Thông thường, cứ mỗi một lần "cởi trói", các nhà lý luận của Đảng lại đánh giá là các bước tiến lớn, hay "đột phá chính sách".
Số lượng Đảng viên hiện tại đã là khoảng 5,6 triệu người, trong số đó nhiều người đã về hưu từng giữ các chức vụ cao, có thể đóng góp về mặt vốn và quan hệ khi được làm kinh tế.
Doanh nhân Đảng viên: Họ là ai?
Việc khuyến khích các Đảng viên tham gia đầu tư, làm kinh tế dường như cũng nhằm mục tiêu nâng cao số lượng doanh nghiệp lên con số 2 triệu được nêu trong Nghị quyết 68.
Tháng 5/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, coi đó là "một động lực quan trọng nhất" trong tham vọng đổi mới mô hình tăng trưởng, và đưa Việt Nam thoát khỏi lời nguyền "chưa giàu đã già".
Kể từ khi Đảng cho phép các thành viên của mình làm kinh tế tư nhân, đã có nhiều Đảng viên cấp cao tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Một số quan chức cấp bộ trưởng sau khi về hưu đã tham gia các doanh nghiệp như cựu Thống đốc Cao Sỹ Kiêm làm Chủ tịch Ngân hàng Đông Á, hay cựu Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Trần Xuân Giá làm Chủ tịch ngân hàng ACB.
Một trong những doanh nhân từng giữ chức vụ cao được nhắc đến trong thời gian gần đâu là ông Võ Kim Cự.
Ông Cự, dù không phải ủy viên Trung ương, nhưng từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh trong một giai đoạn ngắn, từ tháng 2/2015 -10/2015, đã nghỉ hưu năm 2017, và sau đó bị cách chức, trở thành một Đảng viên bình thường.
Năm 2022, gia đình ông Cự đã thành lập Công ty Cổ phần Tập đoàn Y Dược Sâm Ngọc Linh Việt Nam, và liên tục tăng vốn lên đến hàng trăm tỷ đồng sau đó.
Hiện tại, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Cảnh của Đoàn Gia Lai, từ lâu cũng là một Đảng viên làm chủ các doanh nghiệp thuộc gia đình của ông.
Đảng còn chủ trương phát triển các tổ chức Đảng trong khối doanh nghiệp tư nhân và khối FDI – doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tháng 8/2026, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 12-CT/TW về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân.
Tài liệu này đưa ra con số khu vực kinh tế tư nhân có 15.221 tổ chức đảng với 187.034 đảng viên.
Điều này là một sự gia tăng đáng kể khi vào năm 2006, có hơn 35.000 Đảng viên trong kinh tế tư nhân – khu vực tạo ra phần lớn việc làm và đóng góp hơn 50% GDP.
Có nhốt được quyền lực công 'vào lồng'?
Việc Đảng viên, đặc biệt là những người giữ các chức vụ cao, làm kinh tế, và nay là được khuyến khích, cũng tạo ra nhiều lo ngại về chuyện đặc quyền đặc lợi, cũng như tính liêm chính khi sử dụng quyền lực công để tạo lợi ích riêng.
Ngay cả Trung ương Đảng cũng nhấn mạnh chuyện không để xung đột lợi ích, điều có thể làm méo mó thị trường đồng thời gây tổn hại cho uy tín của Đảng cầm quyền.
Nếu quyền lực đó không được kiểm soát, hay nói như cách ông Nguyễn Phú Trọng từng đề cập "nhốt quyền lực vào lồng" thì mối quan hệ của các đảng viên cấp cao – nay là chủ doanh nghiệp, có thể khiến cho thị trường trở nên méo mó, cạnh tranh không công bằng.
Điều đó, như ông Tô Lâm nhắc đến trong bài phát biểu kết luận Hội nghị Trung ương 4 khi đề cập đến "quyền, điều kiện, giới hạn tham gia phải phù hợp địa vị pháp lý, chức trách, mức độ rủi ro xung đột lợi ích".
Vẫn phải chờ các quy định cụ thể hơn về việc phân định quyền và giới hạn khác nhau từ đảng viên ngoài khu vực công, đảng viên đã nghỉ hưu đến cán bộ, công chức đương nhiệm.
Ông Tô Lâm yêu cầu cơ chế quản lý phải nhận diện được người sở hữu, người chi phối, người hưởng lợi, điều được dư luận trong thời gian qua nhìn nhận về các doanh nghiệp sân sau, hay bóng dáng của thân hữu.
Rất nhiều các Đảng viên cấp cao, khi đang nắm giữ các quyền lực lớn, cũng đã vướng các sai phạm, vi phạm, trong đó nhiều người bị xử lý hình sự vì các tội tham nhũng.
Thậm chí ông Tô Lâm còn nhắc đến biểu hiện cấu kết "quan - thương", tức là quan hệ giữa quan chức lãnh đạo với doanh nhân để trục lợi.
Đảng vẫn có các cơ chế kiểm soát quyền lực, đồng thời nâng cao việc giải trình nguồn gốc tài sản qua đánh giá hàng năm, dù không công khai kết quả.
Trong bài viết tựa đề Đánh thức nguồn lực đảng viên làm kinh tế tư nhân trên tờ Công an Nhân dân, Trung tướng Trần Bá Thiều, cựu Tổng Cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND, nhấn mạnh chuyện "Đảng viên không được kinh doanh bằng quyền lực, nhưng hoàn toàn có thể kinh doanh bằng trí tuệ, vốn, năng lực quản trị và sức lao động của mình.
"Một quy định tốt phải khiến người làm ăn chân chính yên tâm hơn, và khiến kẻ muốn mượn quyền lực để kinh doanh không còn chỗ nấp", Tướng Thiều viết.
Tiến sĩ Huỳnh Thế Du, Giảng viên Trường Chính sách và Quản lý Fulbright, nhận định rằng điều "cốt lõi" là "thiết kế cơ chế kiểm soát để bảo đảm chủ trương được thực hiện đúng mục tiêu".
Tờ Tuổi Trẻ dẫn lời ông Du rằng rủi ro lớn nhất là một số người có thể lợi dụng vị trí, quyền hạn, thông tin hoặc quan hệ công tác để tạo lợi thế kinh doanh không bình đẳng, tác động đến quá trình phân bổ nguồn lực công hoặc đứng tên hộ người khác nhằm che giấu lợi ích thực tế.
Tiến sĩ Du kêu gọi tăng cường kiểm tra độc lập, giám sát tài sản, thu nhập và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, đặc biệt cần bảo đảm việc thực thi dựa trên quy định rõ ràng, có thể kiểm chứng, tránh tạo ra cơ chế xin - cho hoặc áp dụng tùy nghi.
Thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa đặc quyền, đặc lợi và xung đột lợi ích cũng là ý kiến của ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam nêu ra trên tờ Dân Trí về vấn đề này.



















